📘 Tải 100+ tài liệu nghị luận văn học, 100+ đề thi học sinh giỏi ... chỉ 1 Click

NLVH làm sáng tỏ quan niệm: Thơ thể hiện những tâm trạng những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc qua bài thơ Bờ sông vẫn gió

Đề bài: Từ những cảm nhận về bài thơ trên, anh/chị hãy làm sáng tỏ quan niệm: Thơ thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu. (Trích Từ điển thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi, NXB Giáo dục, 2004, trang 309)

Đọc văn bản:

Bờ sông vẫn gió  (2)

Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió người không thấy về
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối… một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một thời tóc xanh
Lệ xin giọt cuối để dành
Trên phần mộ mẹ vương hình bóng cha
Cây cau cũ, giại(3) hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần
Con xin ngắn lại đường gần
Một lần… rồi mẹ hãy dần dần đi.
(Trúc Thông (4). Nguồn https://vanvn.vn/ nha-tho-truc-thong-bo-song-van-gio-nguoi-khong-thay-ve/)

Thực hiện yêu cầu:

 (1) sài : tên gọi chung các bệnh nội khoa lâu khỏi ở trẻ em.

(2) Bài thơ Bờ sông vẫn gió được sáng tác năm 1983 – trong một lần về thăm quê, và một năm sau đó, mẹ của nhà thơ Trúc Thông qua đời.

(3) giại: cái giại, một thứ bình phong đan bằng tre dựng trước hiên nhà ở những vùng quê Bắc Bộ.

 (4) Trúc Thông (8/2/1940 – 26/12/2021), tên thật là Đào Mạnh Thông. Quê gốc: làng Ngô Khê, (nay là xóm 6) xã Bình Nghĩa, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Trúc Thông là tác giả cả một đời tận tâm với thơ, luôn nỗ lực tìm tòi đổi mới, là “người đi đầu trong các nhà thơ đổi mới ở miền Bắc” (Nguyễn Quang Thiều). Với hướng đi sâu gắn bó với cuộc đời, với con người, thơ của Trúc Thông đặc biệt da diết với khát vọng giải phóng con người, tìm tới sự phát triển tự do, hoàn thiện cho mỗi con người – cá thể. Đề tài trong thơ ông rộng mở và phong phú. Ông có khả năng biến những thứ tưởng chừng rất khô khan thành những bài thơ hay với giọng điệu nồng nàn, say đắm

Dàn ý chi tiết

Từ lâu, thơ ca vẫn được xem là tiếng nói tinh tế nhất của tâm hồn con người. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng thơ là nơi hội tụ của cảm xúc, hình ảnh và âm nhạc của ngôn từ. Trong Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi đã khẳng định: “Thơ thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu.” Nhận định ấy không chỉ chỉ ra đặc trưng cơ bản của thơ ca mà còn nhấn mạnh bản chất thẩm mỹ của loại hình nghệ thuật này: cảm xúc được chưng cất trong hình thức ngôn từ đặc biệt. Bài thơ Bờ sông vẫn gió của Trúc Thông, viết trong những năm tháng nhà thơ linh cảm về sự chia ly với mẹ, là một minh chứng xúc động cho đặc trưng ấy. Từ nỗi nhớ, nỗi đau và khát vọng níu giữ thời gian, bài thơ đã cất lên tiếng lòng con người bằng những câu chữ giản dị mà ám ảnh, giàu nhạc tính và sức gợi.

1. Giải thích ý kiến
* Cắt nghĩa:

Thơ thể hiện những tâm trạng, xúc cảm mạnh mẽ: đề cập đến đặc trưng nội dung của thơ. Thơ biểu hiện những xúc động nội tâm, những tình cảm mãnh liệt, sâu sắc của con người trước cuộc sống.

Ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu: đề cập đến đặc trưng hình thức của thơ. Ngôn ngữ thơ cô đọng, khái quát có sức biểu đạt sâu xa; có khả năng tái hiện các sự vật, hiện tượng đời sống; có nhịp điệu tạo ra nhạc điệu và âm hưởng cho bài thơ.

à Nhận định nói lên đặc trưng về nội dung và hình thức của thơ là diễn tả đời sống nội tâm phong phú, sâu sắc của con người bằng ngôn ngữ được tổ chức đặc biệt.

* Lý giải:

– Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc. Nếu không có cảm xúc thì người nghệ sĩ không thể sáng tạo nên những vần thơ hay, ngôn từ chỉ là những xác chữ vô hồn  nằm thẳng đơ trên trang giấy. Cảm xúc trong thơ cũng không phải thứ cảm xúc nhàn nhạt, đó là tình cảm ở mức độ mãnh liệt nhất được lắng lọc qua nhận thức, tư tưởng của nhà thơ. Đối với nhà thơ, hoạt động sáng tạo thơ ca thực chất là sự giải phóng tâm hồn để chia sẻ, trút gửi tâm tư sâu kín, những giày vò và chấn động bên trong. Tình cảm trong thơ vừa mang tính cá thể vừa có tính điển hình, vừa là nỗi lòng riêng vừa là tiếng lòng chung.

– Nội dung tình cảm, cảm xúc trong thơ được thể hiện qua cách tổ chức ngôn từ đặc biệt: ngôn từ trong thơ được lựa chọn tinh tế, công phu, ý ở ngoài lời; hình ảnh trong thơ được tái tạo cụ thể, sinh động bằng ngôn từ khơi dậy cảm giác, gợi ra những ý nghĩa tinh thần trong lòng người đọc; đặc biệt ngôn từ trong thơ giàu nhịp điệu, nhạc điệu nhờ điểm ngắt hay ngừng theo chu kì; cách tổ chức các yếu tố âm thanh của ngôn từ như gieo vần, phối hợp bằng, trắc…

Hướng dẫn chấm:

Thí sinh giải thích, lí giải vấn đề lí luận văn học sâu sắc 1,5 điểm.

Trường hợp thí sinh giải thích chung chung, lí giải vấn đề lí luận văn học chưa sâu sắc 0,75 điểm.

Thí sinh không giải thích, lí giải: 0 điểm.

2. Làm sáng tỏ nhận định qua cảm nhận tác phẩm
a. Giới thiệu tác giả và bài thơ

Tác giả: Trúc Thông là tác giả cả một đời tận tâm với thơ, luôn nỗ lực tìm tòi đổi mới, là “người đi đầu trong các nhà thơ đổi mới ở miền Bắc” (Nguyễn Quang Thiều). Với hướng đi sâu gắn bó với cuộc đời, với con người, thơ của Trúc Thông đặc biệt da diết với khát vọng giải phóng con người, tìm tới sự phát triển tự do, hoàn thiện cho mỗi con người – cá thể. Đề tài trong thơ ông rộng mở và phong phú. Ông có khả năng biến những thứ tưởng chừng rất khô khan thành những bài thơ hay với giọng điệu nồng nàn, say đắm.

– Tác phẩm: “Bờ sông vẫn gió” được sáng tác năm 1983 – trong một lần về thăm quê, và một năm sau đó, mẹ của nhà thơ qua đời. Dường như linh cảm về cái chết cận kề của người mẹ già yếu đang đến rất gần đã thôi thúc tác giả viết những lời thơ nghẹn ngào, xúc động đến ám ảnh.

b. Cảm nhận bài thơ để làm sáng tỏ nhận định

* Bài thơ thể hiện những tâm trạng, xúc cảm của nhân vật trữ tình

– Nỗi chạnh buồn, xót xa, cảm giác trống vắng cùng sự ngóng đợi Lá ngô lay ở bờ sông/Bờ sông vẫn gió người không thấy về”.
Khung cảnh bờ sông quê trong chiều đầy gió với những lá ngô xào xạc đánh thức nỗi buồn, trống vắng se sắt cả tâm can bởi cảnh vẫn thế mà người mẹ dấu yêu nay vắng bóng. Cảnh quen gợi nhớ bóng hình thân thương khiến con ngóng đợi…

– Niềm mong mỏi tha thiết mẹ trở lại dù chỉ một lần. Dẫu biết mẹ không còn song con chỉ mong mẹ trở về để con được gặp mẹ, được sống trọn vẹn với cảm giác ấm áp khi ở bên người một lần cuối trong đời. Nỗi nhớ mong mẹ tuôn theo dòng nước mắt rơi xuống những kỉ niệm đang hiện về trong tâm thức. Trong niềm mong ước, tác giả đã vẽ nên một bức tranh làng quê gần gũi, thân thuộc, thanh bình đã gắn bó với cuộc đời của mẹ và chạm khắc hình ảnh người mẹ tảo tần, lam lũ, giàu tình cảm yêu thương mà thân phận dâu bể khiến lòng người xót xa, thương cảm…

 – Những kí ức về mẹ càng khiến cho con thêm đau đớn và có cảm giác trống vắng không gì bù đắp nổi -> Lòng thức dậy mong cầu  khắc khoải “Con xin ngắn lại đường gần. / Một lần… rồi mẹ hãy dần dần đi”. Con sẵn lòng làm tất cả những gì có thể để đổi lấy một lần trở về của mẹ. Lời thơ vang lên khắc khoải, chân thành, lời cầu xin như vệt nước mắt xót xa chìm vào im lặng mênh mang.

à Bài thơ thể hiện tình cảm chân thành của nhân vật trữ tình dành cho mẹ -> đánh thức cảm xúc nhân văn trong người đọc.

(Lưu ý: Đánh giá cao bài viết có những cảm nhận riêng về tâm trạng của nhân vật trữ tình nếu phù hợp với tinh thần văn bản)

* Ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu:

– Ngôn ngữ thơ giản dị, cảm động: động từ “lay”… chạm đến sự se sắt của cõi lòng; biện pháp tu từ (phép điệp, phép đối, lặp cấu trúc) đem đến cách diễn đạt giàu cảm xúc cho các câu thơ…

– Hình ảnh thơ giàu sức gợi

– Thể thơ lục bát với cách ngắt nhịp linh hoạt, giọng điệu sâu lắng, da diết, khắc khoải phù hợp với việc chuyển tải nỗi nhớ, tình cảm yêu thương sâu nặng dành cho mẹ của tác giả, đồng thời tạo nên sự sâu sắc và xúc cảm lắng đọng cho bài thơ.

3. Bàn luận, mở rộng
 – Nhận định trên đã chỉ ra đặc trưng của thể loại thơ ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật: Thơ ca chân chính muôn đời là điểm tựa tinh thần của con người được thể hiện qua sáng tạo ngôn từ độc đáo.

– Ý kiến định hướng cho người sáng tác và người tiếp nhận:

+ Đối với người sáng tác: cần nuôi dưỡng tình cảm mãnh liệt, chân thành đồng thời phải dụng công với chữ nghĩa trong sáng tạo thơ để tác phẩm trở thành nhịp cầu nối kết trái tim với trái tim.

– Với người tiếp nhận: cần mở rộng tâm hồn khi tiếp nhận tác phẩm để cảm nhận được những rung động cảm xúc của nhà thơ, cái hay cái đẹp của lời thơ và biết tự nuôi dưỡng, vun đắp những tình cảm đẹp đẽ trong lòng mình, đồng sáng tạo với tác giả, nối dài sự sống cho tác phẩm.

Qua Bờ sông vẫn gió, có thể thấy rõ thơ ca là sự kết tinh của cảm xúc mãnh liệt và hình thức nghệ thuật đặc thù. Nỗi đau mất mẹ, nỗi khao khát được gặp lại người thân yêu chỉ một lần nữa được Trúc Thông diễn đạt bằng ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh và nhịp điệu lục bát da diết, tạo nên sức ám ảnh lâu bền trong lòng người đọc. Điều đó làm sáng tỏ nhận định của các nhà nghiên cứu: thơ không chỉ là lời nói có vần, mà là tiếng nói của tâm trạng được tổ chức bằng ngôn từ nghệ thuật. Như Hoài Thanh từng nói, thơ là “tiếng nói của tâm hồn khi đã chạm đến độ rung sâu nhất”. Chính từ độ rung ấy, thơ trở thành nơi con người gửi gắm những xúc cảm sâu kín nhất và cũng là nơi người đọc tìm thấy sự đồng cảm, sẻ chia và thanh lọc tâm hồn mình.

Yêu thích

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bói Bài Tarot
Mở trang