📘 Tải 100+ tài liệu nghị luận văn học, 100+ đề thi học sinh giỏi ... chỉ 1 Click

Phân tích chủ đề của đoạn trích Làm tổ của nhà văn Nam Cao

Đề bài: Anh/chị hãy viết đoạn văn Phân tích chủ đề của đoạn trích Làm tổ của nhà văn Nam Cao

(Tóm tắt: Sang tháng chín rồi mà vẫn có bão to. Bão tàn phá ruộng vườn, nhà cửa khiến bao người mất trắng. Ai nấy cũng đều xót xa)

Nhưng trận bão ít nhất cũng làm cho một người sung sướng. Ấy là Thái cao kều. Không phải Thái là một kẻ dở hơi. Nhưng hắn chỉ có hai bàn tay trắng, nhưng thằng không có của không bao giờ mất của.

Vốn xưa kia Thái cũng có vườn. Có ba sào. Chẳng phải của ông cha để lại cho. Ông cha hắn cũng nghèo. Lúc sống cơ nghiệp có bao nhiêu thì lúc chết lại quấy vào ma mang đi hết. Ỏ. Ba sào vườn của hắn, nguyên do là của ông lý Biện cho hắn. Hồi ấy hắn làm đầy tớ nhà ông lý. Chính vào hồi khốn khó. Thóc có hào tám, hai hào một thùng. Làm ruộng không đủ tiền trâu bò với tiền nộp thuế. Người ta lũ lượt kéo nhau đi mộ phu, đi lên rừng. Vườn, ruộng ế. Những mảnh tốt còn có người muốn giữ. Những mảnh xấu, chẳng có ai còn thiết. Người ta bỏ thuế. Lý trưởng sợ không có gì mà nộp đầy lại được, mang gán cho bà con thân thuộc, người một mảnh, người vài mảnh. Còn lại mảnh ba sào đất bãi, không ai chịu nhận, ông bèn cho Thái. Cho thì lấy vậy. Dẫu chẳng được lợi lộc gì thì cũng không phải thiệt. Dù nộp thuế là phần nhất. Không đủ thì cứ ì ra đấy. Hắn là đầy tớ của ông lý, không lẽ ông giết hắn? Ngày ấy hắn chưa vợ, chưa con gì.

Mấy năm sau, ông lý Biện từ lý trưởng. Người khác lên thay. Thái không thể ăn vườn mà không nộp thuế. Hắn đã toan bỏ phắt, nhưng không bỏ được. Bởi bây giờ hắn đã trót đa mang vào cái cảnh vợ con. Vợ hắn bảo rằng: Cái vườn cũng như một cái xương để gặm dần. Thị nhất định cứ giữ khư khư lấy cái xương ấy, không chịu nhả. Sự co quắp của đàn bà thật là khó chịu nhưng nhiều khi có lý. Bởi vì cái thời mọi cái rẻ như bèo dần dần phải qua đi. Thóc gạo trở lại giá bình thường, rồi quá giá bình thường. Một thúng sắt tây đã có kì lên đồng tám. Gấp mười lần khi trước. Những người ăn đông méo mặt. Ngày nắng còn có thể đông được gạo, ngày mưa, nhiều khi có tiền mà cũng đành phải nhịn. Cầm rá ra hàng gạo, đỏ ai thấy đâu hàng gạo đâu; người đi đông chen chúc. Hàng gạo vừa bán vừa mắng xa xả, người mua cũng phải lăn lưng vào. Ồ! Bây giờ thì vườn, ruộng sao mà quý thế! Ba sào vườn của Thái bỗng nhiên có giá. Nó đã không còn là xương nữa. Nó là miếng ngọc. Biết bao nhiêu anh em! Hồi đầu năm, có người trả trăm hai. Rồi có người trả trăm ba. Rồi có người trả trăm tư. Hồi tháng năm vừa rồi, đấy hắn phải chạy tiền nộp thuế, có anh cay mua quá, trả luôn trăm sáu. Đã ghê chưa? Chưa bao giờ hắn tưởng hắn có cả một cơ nghiệp to đến thế. Ngót hai trăm đồng bạc!

Vợ hắn vênh mặt lên mà bảo: Đây chả đời bán mãi đi! Giá bán rồi thì bây giờ nhìn người ta ăn mà xót xoa.

Hắn cười: Người ta đùa đấy chứ ai chịu bán? Có ba sào vườn bán đi thì ở đâu?

Úi chao!

  • Thật chứ!… Bây giờ cứ trả hai trăm bạc, tôi có bán thì cứ phì vào mặt tôi.

Có người biết thế. Người ấy dòm ngó cái vườn của Thái lâu lắm. Y biết rằng Thái túng, nghĩa là cái mồi còn có thể giằng ra được. Miễn là phải khéo. Y chờ từng cơ hội. Mà cơ hội thì nay đây: Một hôm y thấy Thái đến sòng sóc đĩa. Dấu hiệu này rất tốt. Bởi đến sòng sóc đĩa thì phải đánh. Đánh thì thua hoặc được. Được thì đánh nữa cho đến bao giờ hóa thua. Kết cục thì bao giờ cũng thua.

Y chờ lúc đó. Lúc đó đã đến, như lời y đoán. Y cho Thái vay vài chục. Rồi y lại cho Thái vay vài chục nữa, rồi vài chục nữa. Sau cùng thì y gạ Thái có vườn. Có thôi, chứ y không có tiền mua đâu. Không muốn có thì xoay tiền mà trả y. Y không cho vay thêm nữa. Vay nhiều rồi. Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu? Xoay đâu cũng phải lãi mười phân. Thôi thì có mẹ nó cái vườn cho xong! Thái nghĩ thế, bởi vì hắn đã thua cay lắm. Cần phải gỡ. Dẫu phải bán thân hắn đi để mà gỡ, hắn cũng không ngần ngại. Ấy thế là cái vườn mất. Bởi vì cái vườn bán có đất khét mới được hai trăm thì người lấy có lấy luôn cho hắn những trăm hai. Trăm hai, trăm hai, viết là hai trăm cho cẩn thận, do cái lẽ trong văn tự chỉ có thể nói: Lãi y như quốc lệ. Y như quốc lệ nghĩa là đồng bạc, tháng có một xu. Tiền để đó mục ra, cũng không cho vay nhẹ lãi như thế. Vậy thì viết tăng lên hai trăm cũng được, nhưng đến lúc chúc thì cứ số trăm hai tính lãi mười phân mà trả. Người có tiền bỏ ra, bao giờ cũng muốn nắm đằng chuôi như vậy. Được! Được! Muốn thế nào thì thế! Thái cần tiền.

(Trích Làm tổ, Tuyển tập truyện ngắn của Nam Cao)

Dàn ý chi tiết

* Mở bài:
– Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, đoạn trích.

Nam Cao từng quan niệm: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho… Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi.” Chính vì thế, mỗi trang viết của ông không chỉ phản ánh hiện thực mà còn soi chiếu tận cùng số phận con người. Đoạn trích Làm tổ là một minh chứng tiêu biểu cho ngòi bút ấy. Qua câu chuyện về nhân vật Thái và mảnh vườn ba sào, Nam Cao đã đặt ra một vấn đề nhức nhối: bi kịch của người nông dân nghèo bị cái đói, cái khổ dồn ép đến bước đường cùng, khiến giấc mơ về một “tổ ấm” trở nên méo mó và đầy mỉa mai.

* Thân bài:
– Phân tích chủ đề của đoạn trích “Làm tổ”.
+ Chủ đề: Đoạn trích “Làm tổ” của Nam Cao xoay quanh bi kịch của người nông dân bần cùng hóa, bị cái
đói, cái nghèo, cái khổ đẩy vào bước đường cùng và sự bế tắc tuyệt vọng.
+ Hình ảnh “Làm tổ” trở nên trớ trêu và đầy mỉa mai, thay vì tổ ấm hạnh phúc, nó lại gắn liền với sự tan vỡ
của mảnh vườn – tài sản duy nhất của nhân vật Thai.
+ Đoạn trích khắc họa sâu sắc tâm trạng nhân vật Thai, người vui mừng khi bão sắp đến vì nghĩ đó là cơ hội
thoát nợ, thể hiện sự tan vỡ của mọi giá trị, ước mơ làm “tổ ấm” trở thành ảo mộng trước sự tàn khốc của
cuộc đời.
Ý nghĩa của chủ đề:
+ Giúp người đọc cảm nhận được bi kịch của người nông dân trước cách mạng, họ bị xã hội xô đẩy vào bước đường cùng, chọn cách buông xuôi, chấp nhận số phận cay đắng.
+ Qua đó, Nam Cao tố cáo hiện thực xã hội đương thời, đã tước đoạt quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc cơ bản nhất của con người. Đồng thời khơi gợi lòng trắc ẩn sâu sắc.
* Đánh giá khái quát: Nghệ thuật kể chuyện độc đáo, sử dụng ngôn ngữ bình dị, chân thực, kết hợp nhuần
nhuyễn ngôn ngữ người kể chuyện và nhân vật, cùng khả năng phân tích tâm lý nhân vật sâu sắc thông qua
những tình huống éo le, bộc lộ chiều sâu hiện thực cuộc sống nông thôn Việt Nam trước Cách mạng, thể hiện tài năng và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc của tác giả.

Chủ đề của đoạn trích vì thế không chỉ dừng lại ở câu chuyện riêng của một con người, mà mở rộng thành nỗi đau chung của cả một lớp người trong xã hội cũ. Qua bi kịch của Thái, Nam Cao đã phơi bày một hiện thực tàn nhẫn, nơi con người bị dồn ép đến mức đánh mất cả điểm tựa cuối cùng của đời mình. Đọc đoạn văn, người ta không chỉ thấy sự xót xa mà còn nhận ra tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn. Như lời ông từng viết: “Sống đã rồi hãy viết”, những trang văn ấy chính là tiếng nói day dứt của một trái tim luôn đau đáu trước số phận con người, khiến người đọc không thể thờ ơ trước những kiếp đời nhỏ bé trong vòng xoáy nghiệt ngã của xã hội.

Yêu thích

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bói Bài Tarot
Săn voucher hot HOT ×