Đề bài: Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư chia sẻ: Tôi bắt đầu tin văn chương cũng có lửa làm tan chảy những bức tường thép mà mỗi người tự dựng lên; văn chương cũng là băng, gắn kết những ốc – đảo – người thành một khối, văn chương cũng là nước, dịu dàng mà mãnh liệt vượt qua những rào cản của lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ…”
Anh/Chị hiểu như thế nào về nhận định trên? Hãy làm sáng tỏ nhận định qua truyện ngắn Người gánh nước thuê của tác giả Võ Thị Hảo.
NGƯỜI GÁNH NƯỚC THUÊ
Chẳng ai biết lai lịch của bà, chỉ biết tên bà là Diễm. Diễm là đẹp, là diễm lệ. Ngoài vẻ đẹp, còn mang vẻ sang. Có ai gọi một củ khoai là diễm lệ đâu. Hẳn bố mẹ xưa đặt tên cho con cũng thầm ao ước sao cho con vừa đẹp lại vừa khỏi lầm than. Nhưng trông bà cả một sự nhạo báng cái mong ước đó.
Dáng người bà Diễm bé loắt choắt, bộ mặt nhăn nheo, gầy sạm chỉ còn hai con mắt. Bà vừa đi vừa lắc lư cái lưng còng. Chiếc đòn gánh không bao giờ rời khỏi đôi vai còm cõi của bà. Nó bám chặt lấy bà như một thứ nghiệp chướng. Chiếc đòn gánh của bà cũng thật đặc biệt. Nó nhẵn bóng. Ngay cả những vết sẹo cũng đã nhẵn bóng và cũng khó đoán tuổi như chủ nhân của nó vậy. Nó đã tồn tại cùng bà không biết tự bao giờ. Nó được đẽo gọt từ một thân tre cong hằn dấu vết của những cơn gió táp và ra đời chỉ để đón đợi đôi vai còm cõi của bà Diễm mà thôi. Nó và chủ nhân của nó hợp thành một chỉnh thể của sự bất hạnh, hợp thành biểu tượng của một thân cây vừa mới ra đời đã bị gió mưa vùi dập. Cuối hai đầu đòn gánh là đôi thùng đầy nước lắc lư theo những bước chân không đều của bà Diễm và để lại những vệt nước rỏ ròng ròng như suối nước mắt cạnh đường đi. Những lúc đôi vai được rảnh rang, đôi môi bà lại lẩm nhẩm những câu không đầu không cuối. Bà đi và nói như người lẩn thẩn, nhưng những cử chỉ của bà vẫn chính xác một cách kỳ lạ. Đến máy nước bao giờ bà cũng đi sát mép đường bên phải và lặng lẽ đợi đến lượt mình, không xin xỏ, không tranh giành.
(Lược dẫn: Khi con đường quốc lộ 2 chiều được mở, nhiều hàng quán mọc lên, cần thêm người gánh nước thuê, ông Tiếu xuất hiện)
Một lần bà Diễm bị trượt chân ngã trẹo đầu gối, ông Tiếu vội dìu bà về túp lều của bà rồi lo cơm cháo thuốc thang. Thuốc chỉ có nắm lá láng hơ nóng, chườm bóp. Cơm sang lắm cũng chỉ miếng đậu luộc chấm mắm tôm.
Bà Diễm rưng rưng: “Vậy chứ nhà ông ở đâu?” Vẫn với nụ cười muôn thuở, ông Tiếu đáp: “ở góc chợ Cầu Giấy”. “Vậy chứ lúc mưa gió ông làm sao?” “Thì nép dưới hiên của nhà nào đó cho qua”.
Bà Diễm khóc ròng: “Thôi, ông về đây mà ở cùng tôi. Tôi và ông cũng sắp xuống lỗ rồi, chắc chẳng ai dị nghị gì đâu. Ông ơi, hai cái cây đã bị đánh bật hết rễ, biết tựa vào nhau để đỡ đần thì sẽ lâu đổ hơn”.
Ông Tiếu nhìn xuống đầu ngón chân của mình, không nói gì, nhưng lần đầu tiên nụ cười hóa đá của ông biến mất. Rồi từ đó trong túp lều bên bờ ao, có hai bóng già lọ mọ sớm hôm. Bà Diễm cũng bớt lẩm nhẩm một mình.
Nhưng một hôm ông Tiếu phải trở về góc chợ cũ để tìm mấy cái quần áo rách và cái chăn cũ nát. Gió thu đã se sắt lạnh bên bờ ao. “Làng” của ông Tiếu, đó là góc chợ với đám người rách rưới lam lũ, lang thang không nhà do nhiều hoàn cảnh xui khiến nên. Họ bắc những viên gạch vỡ làm bếp, và lấy những mảnh báo cũ và ni lông rách treo lên làm buồng. Lâu không thấy ông, họ xúm lại hỏi ông đi đâu, ở đâu? Ông ấp úng. Họ càng trêu già, vì biết ông đang ở trong túp lều của bà Diễm. Một thằng lỏi con kiếm đâu ra cây gậy, lấy dây chuối buộc hai viên gạch vào hai đầu vờ làm thùng gánh nước rồi nhăn nhó, còng lưng làm bộ bà Diễm đang gánh nước cạnh ông Tiếu. Cả đám ré lên cười như hóa dại. Những người đi chợ thấy ồn ã cũng đứng lại xem. Được thể, chúng càng làm nhiều trò, diễn cảnh ông Tiếu chân thấp chân cao khoác tay bà Diễm đi chơi công viên. Mọi người tha hồ đắc chí. Chả mấy phen được bữa cười vỡ bụng như hôm nay. Rồi họ sẽ trở thành người kể chuyện có duyên nhất trần đời khi kể lại cho người khác nghe chuyện này. Chỉ có ông Tiếu là đứng lặng phắc không nói được câu nào. Lát sau, vứt lăn lóc bọc quần áo rách, ông lùi lũi trở về túp lều cạnh bờ ao của bà Diễm. Qua dãy nhà gánh nước thuê, vài đứa trẻ lêu lỏng thấy ông đã reo lên:
– A bồ bà Diễm. Đẹp đôi như Chí Phèo và Thị Nở ấy chúng mày ơi.
Về đến lều, ông nằm vật ra giường, không ăn uống. Hôm sau ông lên cơn sốt. Bà Diễm hết lòng săn sóc thuốc thang nhưng vô ích. Lúc sắp trút hơi thở cuối cùng, ông gọi bà đến bên, lần tay vào mụn vá lớn sát ngực lấy ra một tấm ảnh đã ố vàng và một trăm đồng bạc gói kỹ tự bao giờ trong túi ni lông. Trong ảnh là một bé gái tóc tơ xấp xõa, đôi mắt tròn đen mở to ngây thơ. Ông Tiếu thều thào:
– Con tôi đấy bà ạ… Nó bị mất tích trong một trận bom. Người ta bảo nó đã chết cùng với mẹ nó. Nếu thế tại sao chỉ tìm thấy xác mẹ nó thôi. Tôi tin nó vẫn còn sống, có thể nó lưu lạc ở phương nào. Lê con ơi…
Từ đôi mắt mờ đục của ông, hai giọt nước như được gạn từ đáy mắt, như những giọt thủy ngân khó nhọc lăn ra. Ông nức lên, nói đứt quãng:
✨ KHO TÀI LIỆU NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO GEN Z HỌC ĐỈNH ✨
- 💡 100 CÔNG THỨC MỞ BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CỰC ĐỈNH
- 📘 TRỌN BỘ CÁC KHÁI NIỆM LÝ LUẬN VĂN HỌC
- 📝 BÍ KÍP VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN 600 CHỮ ĐẠT ĐIỂM 10
- 🌷 GHI NHỚ CÔNG THỨC MỞ BÀI CHO MỌI ĐỀ THƠ, TRUYỆN
- 🎯 CÁCH ĐƯA LÍ LUẬN VĂN HỌC VÀO BÀI NGHỊ LUẬN
- 💬 CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN THEO CÁC DẠNG CẤU TRÚC
- 🎓 300 TÀI LIỆU NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI
– Bà ơi, nếu… có… một ngày… nào… đó bà thấy có một người con gái… trạc hai mươi… mà giống con… bé trong ảnh này… bà nhớ gọi lại hỏi gốc gác… xem có phải bố nó là ông Tuyền ở xóm Đoài, xã Hoài Ân… không nhé. Và nếu phải… bà nói rằng bố nó vẫn chờ nó… cho đến chết… bà đưa cho nó một trăm đồng… bạc này…
Rồi ông thở hắt ra. Nụ cười oan nghiệt vĩnh viễn tắt trên đôi môi ông.
Bà Diễm ngồi lặng câm nhìn tấm ảnh và một trăm đồng bạc côi cút. Trăm bạc này, chắc ông đã ki cóp từ lâu lắm, khi nó còn mua được nửa chỉ vàng. ốm đau đói rét bao phen, cũng không bao giờ dám đụng đến, để cho đến bây giờ, một trăm đồng bạc của ông dành cho con cũng chỉ đủ để mua một mớ rau muống…
Rồi mộ ông Tiếu cỏ xanh phủ dần, đám cỏ đuôi gà bò lan cả ra mặt đất bằng. Thỉnh thoảng bà Diễm thắp vài nén hương cho ông, lần nào bà cũng thầm thì khấn:
– “Ông Tiếu ơi, tôi vẫn để ý tìm con cho ông mà đâu thấy. Tôi tìm cả khi chờ thùng nước đầy, cả khi đang gánh nước, ngày này qua ngày khác. ờ, nếu nó còn sống thì tôi cũng chẳng còn mấy thời giờ nữa để làm việc đó cho ông. Tôi cũng sắp theo ông về với đất rồi đây. Nhưng mãi đến tận lúc này, tôi vẫn tin có thể chốc nữa, có thể tối nay, ngày mai, con bé đến và hỏi, giọng nó trong veo: “Có phải ông Tuyền cha cháu ở đây không?…”.
Người ta bảo nhau rằng, dạo này bà Diễm càng dở hơi tệ, bởi vì ngoài cái tật cứ nói lẩm bẩm một mình, trong tay bà không bao giờ rời cái gói nhỏ bọc vải nhựa đã cũ mèm, chẳng khác mụ phù thủy đang giữ chặt bùa phép duy nhất giúp cho bà còn sống trên đời này. Có ai biết rằng cái bùa phép đó là tấm ảnh một bé gái đã ố vàng và một trăm đồng bạc cũ. Đằng sau tấm ảnh, một dòng chữ mới viết xiên xẹo đầy lỗi chính tả: “Đây nà cháu Nê, con ông Tuyền ở xóm Đoài, xã Hoài Ân… một trăm đồng bạc lày nà của cháu!”.
(Trích trong 20 truyện ngắn chọn lọc, NXB Lao động, 2009, tr.291 – 299)
Cước chú:
Võ Thị Hảo là nữ nhà văn sinh năm 1956, chuyên viết thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết với các tác phẩm tiêu biểu như: Biển cứu rỗi, Chuông vong cuối chiều, Một tram cái dại của đàn ông, Giàn thiêu, Người sót lại của rừng cười….Với cách viết theo kiểu kết cấu logic nhân quả tâm lí, nhà văn đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật và làm cho câu chuyện hiện lên rõ nét nhất đối với bạn đọc. Người gánh nước thuê là truyện ngắn đầu tay của Võ Thị Hảo được viết năm 1989, khi nữ nhà văn mới bước chân vào làng văn.
Dàn ý chi tiết
Văn chương, xét đến cùng, không chỉ là câu chữ, không chỉ là những câu chuyện được kể lại bằng ngôn từ, mà còn là một dòng chảy tinh thần âm thầm nhưng mãnh liệt, chạm tới những miền sâu kín nhất trong tâm hồn con người. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã từng hình dung văn chương như “lửa”, như “băng”, như “nước” – những hình ảnh vừa đối lập vừa bổ sung để khẳng định sức mạnh cảm hóa, kết nối và vượt giới hạn của nghệ thuật ngôn từ. Trong dòng chảy ấy, truyện ngắn Người gánh nước thuê của Võ Thị Hảo hiện lên như một minh chứng xúc động cho khả năng kỳ diệu của văn chương: làm tan chảy sự vô cảm, gắn kết những phận người cô độc và vượt qua mọi rào cản để chạm đến trái tim người đọc. Qua câu chuyện về bà Diễm và ông Tiếu – hai số phận nhỏ bé bị cuộc đời vùi dập – ta càng thấm thía giá trị nhân văn sâu sắc mà văn chương mang lại.
1. Giải thích ý kiến
*Cắt nghĩa:
– “Văn chương cũng có lửa, làm tan chảy những bức tường thép mà mỗi người tự dựng lên”: văn chương có sức nóng/sức mạnh làm tan chảy vỏ bọc bên ngoài cứng rắn, sự lạnh lùng vô cảm của con người. “Lửa” văn chương sẽ làm tan chảy “bức tường thép” của mỗi người tức là làm cho con người dẹp bỏ được cái tôi kiêu ngạo của mình, dẹp bỏ được phòng tuyến ngụy trang của bản thân, dùng trái tim để đối đãi với trái tim.
– “văn chương cũng là băng, gắn kết những ốc đảo người thành một khối”: “Băng” trong văn chương có sức mạnh “gắn kết” những con người xa lạ, cô đơn, riêng lẻ -“những ốc đảo” xích lại gần nhau, hiểu nhau để trở thành một khối đoàn kết.
– “văn chương cũng là nước, dịu dàng mà mãnh liệt vượt qua những rào cản của lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ”: văn chương như một dòng chảy bất tận vượt qua những giới hạn về thời gian, không gian trong cuộc sống, kết nối con người với mọi thời đại để đem tới cho con người “một bài học trông nhìn và thưởng thức” (Thạch Lam).
=> Chia sẻ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư khẳng định chức năng, ý nghĩa, giá trị của văn chương. Văn chương có “sức mạnh kết nối” mạnh mẽ, phá tan mọi rào cản, giới hạn để đến với trái tim người đọc, gắn kết con người và nhân loại.
* Lí giải:
– Văn học bắt rễ từ hiện thực đời sống. Nhưng nhà văn sáng tác không chỉ để tái hiện đời sống một cách đơn thuần. Tác phẩm văn học ra đời là kết tinh của những trăn trở, những tình cảm mãnh liệt, những khát vọng sục sôi. Người nghệ sĩ bao giờ cũng muốn thông qua tác phẩm, truyền đi một tiếng nói, gửi đi một thông điệp tới người đọc. Ở chiều ngược lại, người đọc trong sự giải mã văn bản, luôn khao khát kiếm tìm một tiếng nói “đồng ý, đồng chí”. Vì thế có thể khẳng định, văn chương sinh ra đã mang trong mình một sức mạnh mãnh liệt kết nối những tâm hồn đồng điệu.
– Văn chương ra đời với sứ mệnh nâng đỡ, xây dựng con người, hướng con người đến những quan niệm sống tốt đẹp. Văn học mở ra cho con người một chân trời mới, đưa con người đến những miền đất mới lạ; tác động vào tư tưởng, tình cảm, hành vi của con người, giúp họ hướng về Chân-Thiện-Mĩ, làm cho người gần người hơn. Và nói như Hoài Thanh là: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta chưa có, luyện những tình cảm ta sẵn có”, hoặc nói như Macxim Gorki: “Văn học là nhân học”. Văn chương vừa bồi đắp tư tưởng tình cảm vừa thanh lọc tâm hồn con người, hướng con người đến những tư tưởng cao đẹp, biết đâu là điều đáng yêu, đáng ghét, biết trân trọng cái thiện, cái đẹp, biết căm ghét và lên án cái xấu xa, độc ác, vô nhân đạo giúp cho tâm hồn con người trở nên lành mạnh, trong sáng, cao thượng hơn, có thể thay đổi hoặc nâng cao tư tưởng tình cảm của con người theo chiều hướng tích cực, tốt đẹp, tiến bộ. Trên hành trình ấy, văn chương đã gắn kết những con người xa lạ.
– Không phải chỉ đơn giản gắn kết giữa người đọc và tác phẩm, mà văn chương còn gắn kết độc giả với nhau. Do mang trong mình những sứ mệnh đặc biệt nên sức mạnh của văn chương không thể chỉ là sức mạnh nhỏ bé và tầm thường. Đó phải là một sức mạnh mãnh liệt và trường tồn, vượt mọi khoảng cách không-thời gian, có khả năng chống lại “mọi định luật băng hoại của thời gian” (Sekhov).
3. Phân tích, chứng minh
a, Giới thiệu khái quát về tác giả Võ Thị Hảo và truyện ngắn Người gánh nước thuê
b, Truyện ngắn Người gánh nước thuê vừa có “lửa”, vừa có “băng” lại vừa là “nước”:
* Người gánh nước thuê đã làm “tan chảy” trái tim độc giả, thức dậy những tình cảm, suy nghĩ, trăn trở cao đẹp, nhân văn trong lòng người đọc.
– Trước hết, truyện khơi dậy nơi người đọc niềm xúc động chân thành, sự thương cảm sâu sắc với những số phận cuộc đời nghèo khó, bất hạnh trong cơn bão táp của nền kinh tế thị trường. Đó là hình ảnh của bà Diễm và ông Tiếu.
+ Những con người với ngoại hình toát lên vẻ khắc khổ: bà Diễm hiện lên với dáng người bé loắt choát, bộ mặt nhăn nheo gầy sạm. Ông Tiếu được khắc họa với một khuôn mặt khắc khổ ngàn vạn nếp nhăn, đôi mắt biểu lộ một nỗi đau khổ bất thường….
+ Họ làm công việc gánh nước thuê nặng nhọc, vất vả, chịu sự khinh khi của người đời.
+ Họ có cảnh ngộ éo le: nghèo khó, neo đơn, chịu những khiếm khuyết về thể chất (bà Diễm), mang những nỗi buồn đau riêng của gia đình (ông Tiếu)
=>Nhà văn đã ghé ngòi bút của mình xuống dưới đáy cùng của xã hôi, lắng nghe tiếng thĩ thầm của những mảnh đời bất hạnh, để khêu lên lòng trắc ẩn chân thành nơi người đọc.
– Truyện ngắn còn gieo vào tâm hồn người đọc niềm trân trọng, tin yêu những phẩm chất người rất đẹp; sự ngợi ca những tình cảm cao đẹp của con người: đó là tình phụ tử, tình người bao la, chữ tín giữa con người với con người.
+ Đó là tình phụ tử thiêng liêng của ông Tiếu dành cho đứa con gái bị mất tích trong một trận bom. Ông vẫn nuôi hi vọng con còn sống và luôn mang theo tấm ảnh của con bên cạnh cho đến lúc chết.
+ Đó là tình người bao la giữa những người cùng khổ. Từ những người xa lạ, qua những lần giúp đỡ nhau tai máy nước, bà Diễm đã đề nghị ông Tiếu về ở cùng túp lều của mình khi biết ông Tiếu không có nhà, mỗi tối phải lang thang nơi góc chợ. Đó là sự cưu mang, giúp đỡ, nương tựa lẫn nhau giữa hai cái cây đã bị cơn lốc cuộc đời quật cho bật hết rễ.
+ Đó là niềm tin trao gửi và sự hết lòng của người sống để thực hiện di nguyện của người đã khuất. Bà Diễm luôn đau đáu việc tìm con cho ông Tiếu như di nguyện trước khi chết của ông. Chi tiết cuối truyện bà Diễm dù ngày càng lẩm cẩm nhưng luôn giữ chặt trong tay tấm ảnh của bé gái con ông Tiếu và dòng chữ nhắn nhủ người nhận thật khiến người đọc không khỏi xót xa.
=>Truyện ngắn vì thế đã thức gợi và thắp lửa tin yêu nơi trái tim độc giả giữa cuộc sống còn nhiều bộn bề và lo toan.
* Người gánh nước thuê không chỉ đưa người đọc đến gần với số phận của những phận người khốn khổ và bất hạnh trong xã hội, mà qua trang viết, người đọc còn có dịp “kết nối, đồng điệu” với tác giả. Qua tiếng nói kín đáo mà nhà văn gửi vào con chữ để bày tỏ niềm cảm thông, xót xa với nỗi đau khổ của con người; bày tỏ niềm trăn trở, sự phê phán trước sự vô cảm với nỗi đau của con người; người đọc có dịp được “diện kiến” một con người với tấm lòng trắc ẩn mênh mông, với trái tim nhân ái và luôn thổn thức trước những vấn đề đời sống của con người, với tâm hồn tế vi luôn run lên trước hiện thực đời sống. Đó là tiếng nói tri âm trong văn học.
* Tác phẩm thực sự còn là cầu nối, kết nối những tâm hồn đồng điệu. Vượt lên trên khoảng cách không gian, thời gian, những “người đọc xa lạ” đã gặp nhau tại trang viết Người gánh nước thuê trên hành trình khám phá cuộc sống và số phận con người. Cùng thương cảm với nỗi khổ đau, cùng nâng niu những điều tốt đẹp, độc giả đã đồng hành cùng nhau trên chặng đường vươn tới và thức gọi phần người tốt đẹp trong mỗi con người. Thiết nghĩ, đó chính là giá trị cao đẹp nhất, sứ mệnh thiêng liêng nhất của văn học.
c, Sức mạnh của “lửa”, “băng”, “nước” trong Người gánh nước thuê được truyền tải qua một hình thức nghệ thuật độc đáo:
– Kể chuyện theo ngôi thứ ba với điểm nhìn chủ yếu là điểm nhìn của người kể chuyện
– Truyện kể theo trật tự thời gian tuyến tính nhưng đan xen nhiều chi tiết bất ngờ lôi cuốn
– Xây dựng nhân vật: tô đậm ngoại hình với những chi tiết mang tính biểu tượng, khắc họa qua ngôn ngữ đối thoại và lời kể, lời tả của người kể chuyện
– Giọng điệu trần thuật khách quan, có phần lạnh lùng nhưng ẩn đằng sau là niềm xót thương dành cho nhân vật của nhà văn
– Ngôn ngữ giản dị nhưng vẫn tinh tế, chọn lọc
4. Đánh giá nâng cao vấn đề
– Ý kiến đúng đắn đề cao vai trò sức mạnh của văn chương. Văn học chân chính, người nghệ sĩ thực thụ phải có sứ mệnh “làm cho người gần người hơn” (Nam Cao).
– Bài học cho người viết truyện ngắn: phải có xúc cảm mãnh liệt, chân thành, tài năng nghệ thuật điêu luyện, trí tưởng tượng phong phú để không chỉ phản ánh hiện thực sẵn có mà còn nói lên những điều cần có, chưa có trong cuộc đời; thể hiện ước mơ, khát vọng và những cảm xúc tinh tế trong chiều sâu tâm hồn con người để tác phẩm có thể đến với trái tim bạn đọc, gắn kết con người nhiều thế hệ. Nếu nhà văn không có vốn sống, không có tài năng để viết nên tác phẩm cho đời, cho người thì làm sao nghệ thuật có thể hóa thân thành “lửa”, thành “băng”, thành “nước”?
– Bài học về tiếp nhận văn chương: Nếu độc giả tiếp nhận một cách hời hợt và chóng vánh thì văn chương cũng không thể hóa thành bất cứ điều kỳ diệu nào để gắn kết con người. Vì thế người đọc cần đến với tác phẩm bằng tất cả tình yêu, niềm say mê, chân thành mới có thể nhận ra được thông điệp mà người nghệ sỹ gửi gắm, từ đó khám phá vẻ đẹp kì diệu của văn chương và những tình cảm sâu kín, nhân bản của con người.
Qua Người gánh nước thuê, Võ Thị Hảo đã làm hiện hữu trọn vẹn “lửa”, “băng” và “nước” của văn chương như cách Nguyễn Ngọc Tư hình dung. Tác phẩm không chỉ lay động lòng trắc ẩn của người đọc trước những phận người bất hạnh mà còn thắp lên niềm tin vào tình người, vào những giá trị nhân bản bền bỉ giữa cuộc đời khắc nghiệt. Văn chương, vì thế, không chỉ phản ánh hiện thực mà còn nâng đỡ con người, kết nối những tâm hồn xa lạ và vượt qua mọi giới hạn để trường tồn cùng thời gian. Như Thạch Lam từng nói, văn chương là “một bài học trông nhìn và thưởng thức cuộc sống”, và chính từ những trang viết như Người gánh nước thuê, ta học được cách yêu thương, sẻ chia và tin tưởng vào phần người tốt đẹp trong mỗi con người.
✨ KHO TÀI LIỆU NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO GEN Z HỌC ĐỈNH ✨
- 💡 100 CÔNG THỨC MỞ BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CỰC ĐỈNH
- 📘 TRỌN BỘ CÁC KHÁI NIỆM LÝ LUẬN VĂN HỌC
- 📝 BÍ KÍP VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN 600 CHỮ ĐẠT ĐIỂM 10
- 🌷 GHI NHỚ CÔNG THỨC MỞ BÀI CHO MỌI ĐỀ THƠ, TRUYỆN
- 🎯 CÁCH ĐƯA LÍ LUẬN VĂN HỌC VÀO BÀI NGHỊ LUẬN
- 💬 CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN THEO CÁC DẠNG CẤU TRÚC
- 🎓 300 TÀI LIỆU NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI
Chỉ cần chọn 1 lá bài – Vũ trụ sẽ trả lời: Yes, No hay Maybe!
Hàng nghìn người đã trải nghiệm và tìm thấy lời khuyên bất ngờ 💫
