Đề bài:
Anh/Chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) So sánh hình ảnh tết và mẹ trong hai bài thơ Khói bếp chiều ba mươi (Nguyễn Trọng Hoàn) và Nhớ Tết (Trương Nam Hương)
“KHÓI BẾP CHIỀU BA MƯƠI”
(Nguyễn Trọng Hoàn)
Con đi xa vẫn nhớ nao lòng
Khói bếp nồng thơm mái rạ
Chiều ba mươi quây quần bên bếp lửa
Nồi bánh chưng nghi ngút trước giao thừa
Ba mươi này mẹ gói bánh chưng chưa
Mâm cỗ tất niên hương tỏa ấm
Ba mươi này mẹ vào ra trông ngóng
Khói bếp xanh quấn quyện trước hiên nhà
Ba mươi này mẹ biết đứa con xa
✨ KHO TÀI LIỆU NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO GEN Z HỌC ĐỈNH ✨
- 💡 100 CÔNG THỨC MỞ BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CỰC ĐỈNH
- 📘 TRỌN BỘ CÁC KHÁI NIỆM LÝ LUẬN VĂN HỌC
- 📝 BÍ KÍP VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN 600 CHỮ ĐẠT ĐIỂM 10
- 🌷 GHI NHỚ CÔNG THỨC MỞ BÀI CHO MỌI ĐỀ THƠ, TRUYỆN
- 🎯 CÁCH ĐƯA LÍ LUẬN VĂN HỌC VÀO BÀI NGHỊ LUẬN
- 💬 CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN THEO CÁC DẠNG CẤU TRÚC
- 🎓 300 TÀI LIỆU NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI
Lòng canh cánh nhớ quê biết mấy
Khói bếp của chiều xưa thức dậy
Thuở ấu thơ vĩnh viễn đã qua rồi
Khói bếp chiều phơ phất ba mươi
Cứ ám ảnh và thiêng liêng gợi nhớ
Vòng tay mẹ …và chúng con bé nhỏ
Mà tháng năm vời vợi khôn nguôi
Quê hương và dáng mẹ
Khói bếp, chiều ba mươi…
(Tạp chí Văn học tuổi trẻ, Trang 35 – số 12 năm 2019)
“NHỚ TẾT”
(Trương Nam Hương)
Tủi thân khói bếp ngày xưa
Mẹ nhen cho tối
Giao thừa bớt suông
Tiếng reo củi ướt đỡ buồn
Bánh chưng mỏng quá ngồi thương bánh giầy
Đầu làng nghê đất ngây ngây
Tuổi thơ pháo chuột pháo dây tẹt đùng
Rạ rơm vây ấm một vùng
Bọc con vào giữa tận cùng hồn quê
Chân nhang cắm gốc bồ đề
Mẹ xin bóng mát tỏa về cái no
Con xin chiếc lá làm trò
Lêu têu chân đất quạt mo thằng Bờm
Tết nghèo bánh lá thay cơm
Đồng xu mừng tuổi còn thơm mùi bùn
Con cầm thương khó run run
Muốn khoe với cả mưa phùn mẹ ơi
Con lam lũ của một thời
Để khi khôn lớn nên người lại xa
Mỗi lần nhìn khói ngang qua
Tự dưng mắt nhớ quê nhà lại cay…
(Báo Đắk Lăk 26/01/2023)
Chú thích:
(1) Nhà thơ Nguyễn Trọng Hoàn (1963 – 28/4/2020) quê: xã Hạ Lễ, , huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, là tiến si ̃ Ngữ văn, từng là giảng viên khoa Ngữ văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2, rồi công tác tại báo Giáo dục Thời đại, sau đó giữ chức phó phụ trưởng Vụ Trung học phô ̉ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, uỷ viên Hội đồng thơ của Hội Nhà văn Hà Nội, đã in 13 tập thơ và tiểu luận văn học, được trao giải A cuộc thi Sáng tác văn học về đề tài nhà trường, giải thưởng cuộc thi Thơ hay về biển 1991, giải thưởng cuộc thi Sáng tác văn học cho trẻ em 1997, tặng thưởng thơ Tài hoa trẻ 1999. Thơ Nguyễn Trọng Hoàn trữ tình, tinh tế và duy mĩ. Anh có nhiều bài thơ hay gắn với những địa danh cụ thể, chứng tỏ sức đi, sức viết với ý thức nghề nghiệp cao và “tình chung thủy” với nàng thơ.
(2) Trương Nam Hương là một nhà thơ tài ba, thơ ông đem đến cho người đọc một tâm hồn sâu sắc, đa âm, đa sắc. Với những từ ngữ giản đơn, bình dị, không cầu kì, rối rắm về thi pháp, mà đơn giản, tự do, giàu cảm xúc về khát vọng thể hiện tình yêu với gia đình, cha, mẹ, bà,… khắc họa lên nhưng khung cảnh bộc lộ theo tâm trạng của chủ thể, tình yêu mẫu tử thiêng liêng cao quý với chấp niệm về tình yêu của mẹ khi tuổi thơ ông vắng bóng tình thương, chỉ dẫn của mẹ, hay hình dáng mạnh mẽ, to lớn của cha cho tới khi ngọn núi ấy sụp đổ. Như vậy, thơ ông mang theo hơi thở của một người con hiếu thảo, nặng tình nặng nghĩa, một người hoài niệm, trân trọng kí ức, người biết thưởng thức cảnh đẹp không chỉ trong con người mà còn ở thiên nhiên trong quê hương đất nước. Một ánh nhìn tinh tế, nhạy cảm với mọi cái đẹp, và đem khoe nó với tất cả mọi người.
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài: Giới thiệu hai tác phẩm được xác định là đối tượng của sự so sánh, đánh giá; nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá.
Có những điều càng đi xa càng hiện rõ, càng trưởng thành lại càng thấy không thể thay thế – đó là quê hương, là Tết, là hình bóng người mẹ. Trong thơ ca, Tết không chỉ là thời khắc chuyển mùa, mà còn là nơi hội tụ của ký ức và tình thân. Khói bếp chiều ba mươi của Nguyễn Trọng Hoàn và Nhớ Tết của Trương Nam Hương đều trở về với miền ký ức ấy, nơi có khói bếp, có nồi bánh chưng, có dáng mẹ tảo tần trong những ngày cuối năm. Nhưng mỗi bài thơ lại mang một sắc thái riêng: một bên là nỗi nhớ êm đềm, thiêng liêng của người con xa xứ; một bên là nỗi nhớ thấm đẫm vị nghèo, chan chứa thương cảm. Đặt hai tác phẩm cạnh nhau, có thể thấy rõ hơn vẻ đẹp của Tết quê và hình ảnh người mẹ trong tâm thức người Việt – giản dị mà bền bỉ, lặng lẽ mà sâu xa.
2. Thân bài: Khái quát chung: Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học,…
Luận điểm 1: Phân tích hình ảnh mẹ và tết trong bài thơ “Khói bếp chiều ba mươi” (Nguyễn Trọng Hoàn)
– Nội dung: Hình ảnh mẹ và tết trong bài thơ
+ Cấu tứ bài thơ xoay quanh tâm tư của một người con xa quê với nỗi nhớ quay quắt về người mẹ và tết qua làn “khói bếp chiều ba mươi”, “ ba mươi này”…
+ Hình ảnh “khói bếp chiều ba mươi” hòa quyện cùng hình ảnh “người mẹ”. Người mẹ trở thành trung tâm của tình cảm gia đình, tình yêu quê hương nồng ấm và gắn liền với những kí ức đẹp về quê hương về gia đình vào chiều ba mươi tết.
+ Hình ảnh “Ba mươi này…” “chiều ba mươi”, nhấn mạnh ngày ba mươi là một ngày ấn tượng nhất đáng nhớ nhất. Bởi đó là ngày cuối cùng của năm để con người có thể gội sạch những bụi bặm lo toan của năm qua để chuẩn bị đón một năm mới đặc biệt đón khoảnh khắc chuyển giao thiêng liêng của đất trời của lòng người, chuyển giao từ cái cũ sang cái mới, từ hiện tại đến tương
lai. “Ba mươi này…” đó là một thời điểm thiêng liêng nhưng con không thể về bên mẹ. chính vì vậy điệp khúc “Ba mươi này…” trong bài thơ gợi nỗi niềm nuối tiếc của người con xa quê và dấy lên trong lòng người đọc một nỗi niềm vời vợi về quê hương về khoảnh khắc cuối năm.
+ Tác giả sử dụng một loạt những hình ảnh gần gũi thân thương, giản dị, đặc trưng của làng quê và nét văn hóa tết cổ truyền Việt Nam: khói bếp, mái rạ, bếp lửa, nồi bánh chưng, mâm cỗ tất niên, hiên nhà, quê hương, dáng mẹ. Những hình ảnh gợi nỗi nhớ gia đình,quê hương đặc biệt là mẹ vào chiều ba mươi tết đã làm thức dậy cả một trời kỷ niệm, một trời thương nhớ. Con người ta ai cũng chỉ có một thời thơ ấu. Song những kỉ niệm tuổi ấu thơ qua đi sẽ không bao giờ trở lại. Những hình ảnh này cho thấy tâm trạng nhớ nhung, nuối tiếc ngậm ngùi của nhân vật trữ tình khi nhớ về những kỉ niệm, nhớ về quê hương..
+ Hình ảnh: Quê hương và dáng mẹ khói bếp, chiều ba mươi…Những hình ảnh này cho thấy nhân vật trữ tình gắn bó sâu lặng với quê hương. Quê hương nơi đó có người mẹ luôn trông ngóng ta về; có hình ảnh khói bếp gợi sự ấm áp yêu thương, có khoảnh khắc chiều ba mươi đầm ấm bên gia đình…Những hình ảnh thơ không chỉ cho thấy nỗi nhớ của tác giả mà còn gợi dư âm vang vọng trong mỗi chúng ta về nỗi nhớ quê hương.
– Nghệ thuật:
+ Thể thơ tự do, câu thơ dài ngắn linh hoạt
+ Ngôn ngữ thơ giản dị trong sáng, giàu giá trị biểu cảm, sử dụng điệp từ “khói bếp”, điệp cấu trúc câu “Ba mươi này…”… tạo nhịp điệu và nhạc điệu trữ tình cho bài thơ.
+ Hình ảnh thơ gần gũi thân thương, giản dị, đặc trưng của làng quê và nét văn hóa tết cổ truyền Việt Nam.
+ Giọng điệu: Trữ tình sâu lắng.
Luận điểm 2: Phân tích hình ảnh mẹ và tết trong bài thơ “Nhớ Tết” (Trương Nam Hương)
– Nội dung: Hình ảnh mẹ và tết trong bài thơ
+ Cảm xúc hoài niệm về một Tết xưa được tác giả thể hiện ở bốn khổ thơ đầu với nhiều hình tượng thơ chân thực, giàu sắc thái biểu cảm và mang đậm dấu ấn của sự trải nghiệm cá nhân.
+ Đến khổ thơ kết bài, Trương Nam Hương bày tỏ nỗi ngậm ngùi, tiếc nuối về khung trời kỷ niệm tuổi thơ gắn với những cái Tết xưa nghèo khó mà vô cùng thơm thảo. Nhìn chung cấu tứ không mới, song bài thơ hấp dẫn nhờ cách viết sáng tạo qua nhiều thi ảnh độc đáo và được kết hợp với thể thơ dân tộc thuộc sở trường của tác giả nên rất nhuần nhuyễn và dễ đi vào tâm hồn người đọc.
+ Hình ảnh người mẹ nghèo ngồi bên bếp lửa “nhen cho tối giao thừa bớt suông”. Tiếng củi lách tách của quá khứ vọng về nghe sao mà chạnh niềm thương cảm: “Tủi thân khói bếp ngày xưa/Mẹ nhen cho tối giao thừa bớt suông/Tiếng reo củi ướt đỡ buồn/Bánh chưng mỏng quá ngồi thương bánh dầy”. Tết xưa trong hồi ức của nhà thơ là thế đấy.
+ Hình ảnh người mẹ nghèo hiện lên cơ khổ và tội nghiệp với “bánh chưng mỏng quá ngồi thương bánh dầy”. Làng quê ngày Tết xinh đẹp, nên thơ nhưng bốn bề nghèo khó, xung quanh chỉ toàn “rạ rơm vây ấm một vùng”. Tuổi thơ nghịch ngợm chạy chơi đầu làng ngõ xóm sống động, vô tư với những trái pháo tẹt, pháo dây sao vẫn ấm lòng đến thế. Các từ láy “ngây ngây”, “đì đùng” thật sống động và ám ảnh, cứ day dứt cõi lòng thi nhân cho mãi đến giờ: “Đầu làng nghê đất ngây ngây/Tuổi thơ pháo tẹt pháo dây đì đùng/Rạ rơm vây ấm một vùng/Bọc con vào giữa tận cùng làng quê”.
+ Tết quê nghèo nên nhang khói tâm linh cũng được mẹ khấn vái sao cho có “cái no” từ linh thiêng cây bồ đề tỏa bóng. “Nhớ Tết” của Trương Nam Hương nhờ thế sâu
sắc và cảm động lắm, nó không những là hồi ức kỷ niệm về tuổi thơ ngây ngô mà còn là tấm lòng thấu hiểu và cảm thông của nhà thơ với quá khứ. Mẹ lo toan cho cái ăn cái mặc hằng ngày bao nhiêu, đứa trẻ ham chơi của tuổi thơ tác giả lại vô tư “lêu têu chân đất quạt mo thằng Bờm” bấy nhiêu. Hình tượng thơ hiện lên nhờ thế chân thực, hấp dẫn như một góc quay cận cảnh: “Nén hương cắm gốc bồ đề/Mẹ xin bóng mát tỏa về cái no/Con xin chiếc lá làm trò/Lêu têu chân đất quạt mo thằng Bờm”.
– Nghệ thuật: thể thơ lục bát giàu nhịp điệu; phép ẩn dụ, nhân hóa…
Luận điểm 3: Nêu rõ điểm giống, khác; lí giải và nêu ý nghĩa
– Điểm tương đồng
+ Nội dung:
++ Cả hai bài thơ đều tập trung thể hiện nỗi nhớ của một người con xa quê về mẹ về ngày tết nơi quê nhà.
++ Cả hai bài thơ đều sử dụng những hình ảnh giản dị quen thuộc trong ngày tết trên làng quê Việt Nam.
++ Nội dung cảm xúc: Cả hai bài thơ đều viết về nỗi nhớ, niềm thương về những kỉ niệm ấp áp bên gia đình nơi có người mẹ dấu yêu. Đồng thời hai bài thơ cũng đều cho thấy sự nghèo khó lam lũ vất vả nơi quê nhà
+ Nghệ thuật thể hiện:
++ Hai bài thơ, các tác giả đều tập trung khắc họa những cung bậc trạng thái phong phú, đa chiều của nỗi nhớ. Nỗi nhớ mênh mang được đặt trong quan hệ với không gian làng quê, không gian trong gia đình.
++ Ngôn ngữ gần gũi, giản dị, quen thuộc, hình ảnh giàu giá trị tạo hình biểu cảm
++ Hai bài thơ đều sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, điệp từ để khéo léo diễn tả nỗi nhớ sâu đậm, giọng điệu da diết, khắc khoải của người con khi nhớ về mẹ và tết quê nhà.
++ Giọng thơ trữ tình sâu lắng.
– Điểm khác biệt:
+ Nội dung:
++ Bài thơ “Khói bếp chiều ba mươi” (Nguyễn Trọng Hoàn) là nỗi nhớ về mẹ với những hình ảnh giản dị thiêng liêng về ngày ba mươi tết và những kỉ niệm về mẹ
++ Bài thơ “Nhớ Tết” của Trương Nam Hương cũng là nỗi nhớ về mẹ với những hình ảnh giản dị thiêng liêng về ngày ba mươi tết và những kỉ niệm về mẹ nhưng nhấn mạnh hơn đến cái nghèo khó, lam lũ vất vả của mẹ nói riêng và của những người dân quê nói chung.
+ Nghệ thuật: Bài thơ “Khói bếp chiều ba mươi” (Nguyễn Trọng Hoàn) viết theo thể thơ tự do còn bài thơ “Nhớ Tết” của Trương Nam Hương viết theo thể thơ lục bát.
– Lí giải vì sao có điểm tương đồng, khác biệt:
+ Có những điểm tương đồng là do cả hai tác phẩm đều viết về nỗi nhớ mẹ nhớ tết nhớ quê nhưng mỗi người lại có những cách cảm khác nhau.
+ Có điểm khác biệt là do yêu cầu bắt buộc của văn học (không cho phép sự lặp lại) và do phong cách riêng của mỗi nhà thơ.
Đánh giá
– Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm.
→ Sự gợi mở về cách nhìn mới đối với thế giới và con người được đề xuất từ mạch ngầm văn bản bài thơ:
Cả hai bài thơ là nỗi nhớ quê hương của người con xa xứ. – nỗi nhớ quê hương đặc biệt gói gọn trong hình ảnh mẹ và tết. Nỗi nhớ ấy “ phất phơ” “ ám ảnh” ‘ thiêng liêng” “vời vợi” “khôn nguôi” trong lòng người. Nỗi nhớ cứ thiết tha, cảm xúc cứ da diết bâng khuâng . Nó tựa như làn khói bếp từ từ dâng lên từ mái rạ, mái tranh rồi
ngưng đọng “phất phơ” giữa trời. Nỗi nhớ mênh mông lan tỏa khắp không gian vượt thời gian và ngân nga trong lòng người.
– Khẳng định lại sự độc đáo của bài thơ và ý nghĩa của nó đối với việc đem lại cách nhìn, cách đọc mới cho độc giả.
+ Cả hai bài thơ đã làm thức dậy tiếng lòng của đứa con tha hương bồi hồi nhớ về quê cũ, bóng dáng mẹ xưa
– Khẳng định sự đóng góp của hai tác phẩm, hai tác giả
3. Kết bài:
– Khẳng định ý nghĩa của so sánh, đánh giá hai tác phẩm
Có thể nêu những ấn tượng của bản thân.
✨ KHO TÀI LIỆU NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO GEN Z HỌC ĐỈNH ✨
- 💡 100 CÔNG THỨC MỞ BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CỰC ĐỈNH
- 📘 TRỌN BỘ CÁC KHÁI NIỆM LÝ LUẬN VĂN HỌC
- 📝 BÍ KÍP VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN 600 CHỮ ĐẠT ĐIỂM 10
- 🌷 GHI NHỚ CÔNG THỨC MỞ BÀI CHO MỌI ĐỀ THƠ, TRUYỆN
- 🎯 CÁCH ĐƯA LÍ LUẬN VĂN HỌC VÀO BÀI NGHỊ LUẬN
- 💬 CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN THEO CÁC DẠNG CẤU TRÚC
- 🎓 300 TÀI LIỆU NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI
Chỉ cần chọn 1 lá bài – Vũ trụ sẽ trả lời: Yes, No hay Maybe!
Hàng nghìn người đã trải nghiệm và tìm thấy lời khuyên bất ngờ 💫
